Mạnh dạn cho ngân hàng phá sản
( Khach san binh thanh) Việt Nam hoàn toàn có thể cho ngân hàng yếu kém phá sản mà
không tạo ra cú sốc, hay đổ vỡ dây chuyền nào trong hệ thống ngân hàng.
Trả lời
phỏng vấn VTC News, TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Chương trình giảng
dạy kinh tế Fulbright cho rằng nên có cơ chế để ngân hàng yếu kém phá
sản thay vì né tránh bằng các giải pháp kiểu mua bán, sáp nhập như hiện nay.
“Kinh
nghiệm các nước cho thấy, việc cho phá sản các ngân hàng không phải là
việc gì quá to tát, không hề tạo ra cú số, hay đổ vỡ dây chuyền nào như
chúng ta vẫn lo ngại”, ông Tuấn nói.
|
| Việc cho phá sản ngân hàng yếu kém đã được 'bật đèn xanh' - Ảnh minh họa |
-
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu, hầu hết các chuyên gia đều đánh giá việc
tái cơ cấu ngân hàng còn rất chậm chạp, nhất là việc sáp nhập các ngân
hàng yếu kém chưa đem lại kết quả như kỳ vọng. Quan điểm của ông về vấn
đề này?
|
| TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright |
Thực ra,
việc gom hai ngân hàng có vốn 3.000 tỷ đồng với nhau thành một ngân hàng
6.000 tỷ đồng điều đó không đồng nghĩa với việc một ngân hàng 6.000 tỷ
đồng mạnh hơn ngân hàng 3.000 tỷ đồng kia. Chúng ta đừng nhầm lẫn điều
đó.
Mục đích
việc hợp nhất, sáp nhập ngân hàng nó phải hình thành lên giá trị cộng
hưởng. Nhưng quá trình hợp nhất của 9 ngân hàng yếu kém của chúng ta
thời gian qua chưa thực sự tạo ra giá trị cộng hưởng, nếu không muốn nói
rằng giá trị cộng hưởng đó đang âm.
Việc sáp
nhập cơ học như vậy không giải quyết được vấn đề, mặc dù nó có thể làm
giảm số lượng các ngân hàng xuống theo đúng tinh thần đề án 254 về tái
cấu trúc mà Ngân hàng Nhà nước có thể có cơ sở để báo cáo về tiến độ
giảm số lượng ngân hàng xuống. Nhưng nó không phải là yếu tố để xem xét
đề án tái cấu trúc ngân hàng thành công hay không.
-
Vậy theo ông, trong thời gian tới, ngành ngân hàng cần phải chú trọng
vấn đề gì để nâng cao chất lượng ngân hàng sau tái cơ cấu?
Có rất nhiều giải pháp cần thực hiện, nhưng tôi nghĩ trước mắt có một số cái khía cạnh chính mà chúng ta cần lưu ý.
Thứ nhất,
chúng ta cần đẩy nhanh hơn tiến độ xử lý nợ để nhanh chóng phục hồi chất
lượng tài sản của ngân hàng cũng như sự phục hồi về vốn tự có của các
ngân hàng.
Thứ hai là tiến độ xử lý các ngân hàng yếu kém, chúng ta cần thay đổi về tư duy.
Hiện nay
chúng ta đã “bật đèn xanh” cho khả năng phá sản của một ngân hàng, thay
vì trước đây ta cứ nói không để cho ngân hàng nào phá sản. Cái này cũng
là một tín hiệu rất tích cực. Điều đó nó có thể tháo gỡ những nút thắt
hiện nay trong việc xóa bỏ các ngân hàng yếu kém.
Hiện nay
chính các ngân hàng yếu kém là nút thắt, đang lấy đi nguồn lực của các
ngân hàng khác, nhưng anh lại không thể chết được để dành nguồn lực đó
cho các ngân hàng khác mạnh hơn để có thể tăng trưởng. Vậy rõ ràng chúng
ta cần mạnh mẽ hơn trong việc xử lý các NH yếu kém đó trên tinh thần
cho phép giải thể, phá sản.
Thứ ba, là
khuôn khổ giám sát của chúng ta hiện nay cần thay đổi một cách mạnh mẽ
và căn bản hơn nữa. Cái hệ thống giám sát của chúng ta hiện nay theo
Thông tư 13, thông tư 19, thông tư 22 nó đã quá bất cập so với cái tiêu
chuẩn giám sát hệ thống ngân hàng trên thế giới. Trong khi thế giới đang
chuyển từ áp dụng basell 2 sang basell 3 thì chúng ta, ở thông tư 13
vẫn trên tinh thần của basell 1, có hơi hướng basell2 mà thôi. Chúng ta
phải thay đổi mô thức giám sát thì mới xử lý được.
Thứ tư,
chúng ta phải quyết liệt hơn trong xử lý vấn đề sở hữu chéo. Nói quá
nhiều nhưng việc xử lý ngân hàng yếu kém của chúng ta vừa qua vô tình đã
làm cho tình trạng sở hữu chéo trở lên trầm trọng hơn, hay nói cách
khác là chúng ta đang dùng chính sở hữu chéo để xử lý các yếu kém của
ngân hàng và nó làm cho vấn đề sở hữu chéo trầm trọng hơn so với trước
đây. Hình dạng sở hữu chéo còn khó nhận dạng hơn, khó phát hiện hơn so
với trước đây.
-
Ông vừa đề cập đến việc để cho ngân hàng yếu kém phá sản, theo ông, liệu
hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay đã đủ sức để chịu một cú sốc nếu
có một ngân hàng phá sản thời điểm này?
Từ kinh
nghiệm của các nước cho thấy, để phá sản một ngân hàng, chúng ta hoàn
toàn dàn xếp được một cách rất yên ổn, không đến nỗi tạo ra một cú sốc
như tình trạng đổ vỡ các tổ chức tín dụng hợp tác xã cuối thập niên 80
của thế kỷ trước.
Ví dụ, đêm
trước khi tuyên bố giải thể, chuyển toàn bộ quyền, nghĩa vụ của ngân
hàng đó sang một ngân hàng thương mại nhà nước. Những người gửi tiền,
những con nợ ở đó sẽ chuyển hết sang một ngân hàng thương mại nhà nước,
như vậy hoàn toàn có thể yên tâm. Chắc chắn sẽ không có cú sốc nào hết.
Luật chồng chéo khó xử lý sở hữu chéo
- Có
một thực tế là hiện nay tình trạng sở hữu chéo trong các ngân hàng đang
là trở ngại chính trong việc cho phá sản, giải thể các ngân hàng. Theo
ông có giải pháp nào để dung hòa 2 vấn đề này?
Nhóm
nghiên cứu Fullbright của chúng tôi từng đưa ra hàng loạt giải pháp gửi
tới Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, trong đó chúng tôi có một loạt các đề
xuất, giải pháp để một phần là xóa bỏ, một phần là giảm sở hữu chéo.
Chúng tôi
không theo đuổi mục tiêu là xóa bỏ hoàn toàn sở hữu chéo, bởi vì trong
chừng mực nào đó thì sở hữu chéo nó vẫn có lợi, ví dụ như tình trạng sở
hữu chéo ở Nhật Bản vào thập niên 50 – 60, thì nó đã giúp cho Nhật bản
thành công về chính sách Công nghiệp hóa, hay tình trạng sở hữu chéo
trong các ngân hàng của Đức thì nó cũng không hề mang đến rủi ro nào cho
hệ thống ngân hàng của họ….
|
||||||||
Tuy nhiên ở
Việt Nam, hầu hết các sở hữu chéo đều gây nguy hại cho hệ thống tài
chính này, không hề mang lại lợi ích nào cho hệ thống tài chính, cũng
như chính sách công nghiệp hóa mà chúng ta đang theo đuổi. Tuy nhiên xóa
bỏ sở hữu chéo cũng đang có rất nhiêu trở ngại.
Vấn đề là
xử lý sở hữu chéo, xử lý những yếu kém của ngân hàng Việt Nam thì cần
phải xử lý vấn đề lợi ích nhóm. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá nhạy cảm.
- Ông có thể đưa ra giải pháp xử lý vấn đề này mà chương trình nghiên cứu của Fullbright cho là hữu hiệu nhất?
Chúng ta thấy rằng hiện nay vấn đề sở hữu chồng chéo có một nguyên nhân từ cái thiết kế luật của chúng ta không chặt chẽ.
Ví dụ như
chúng ta quy định 1 cá nhân không được xử lý quá 5% vốn điều lệ của một
ngân hàng. 5% của một ngân hàng là con số quá lớn. Thứ 2, trong Luật về
công bố thông tin đối với một công ty đại chúng, chúng ta nói rằng,
những người sở hữu từ 5% trở lên thì mới phải công bố thông tin. Trong
Luật các Tổ chức tín dụng chúng ta nói rằng, một cá nhân không được sở
hữu quá 5%. Vậy gộp chung 2 luật này lại, nó thành ra một điều, cá nhân
không cần công bố thông tin.
Hiện nay
chúng ta thấy nhiều cá nhân lách quy định sở hữu 5% đó bằng cách chỉ sở
hữu 4.99%. Như vậy họ đã lách được quy định, họ không sở hữu quá quy
định, không phải công bố thông tin. Như vậy nó bỏ sót được rất nhiều các
đối tượng không phải công bố thông tin, chính điều đó nó làm cho bức
tranh về sở hữu chéo, hay cái nhận diện cuối cùng ấy không rõ ràng,
không biết ai là người sở hữu cuối cùng cái ngân hàng đó. Chúng ta không
xử lý được.
Khi các
ngân hàng rơi vào tình trạng nợ xấu trầm trọng, chúng ta phải bơm vốn vào thì
nó chịu sự chống đối rất nhiều của nhóm cổ đông cũ, nhưng nền tảng pháp
lý và các luật, chế tài của ta quá kém nên dẫn đến tình trạng không
thể xử lý được những cổ đông khi họ mất vốn như vậy.
Các tin khác
Biết cửa hàng vào tối muộn chỉ có một nữ nhân viên, nghi phạm 17 tuổi đeo khẩu trang, cầm dao xông...
Hacker Nga được cho là đã đánh cắp tin nhắn của hàng chục nghìn thành viên Facebook và rao bán 0,1 USD...
Người mắc hội chứng Dancing Mania sẽ nhảy múa cho đến chết mà các bác sĩ không biết được vì sao họ...
Trong khoảng 24 bão di chuyển chủ yếu theo hướng Tây, cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 670km về phía Đông






